Bản ghi mong đợi có tồn tại hay không
Kiểm tra A, AAAA, CNAME và NS. Bản ghi thiếu, cũ hoặc sai loại có thể làm truy cập lỗi trước khi yêu cầu HTTP bắt đầu.
Nhập tên miền để tra cứu bản ghi A, AAAA, CNAME hoặc NS từ các điểm đo 13CE tại Việt Nam. Bạn cũng có thể chỉ định DNS công cộng hoặc DNS của nhà mạng để phân biệt lỗi cấu hình bản ghi với cache và hành vi resolver.
Biểu mẫu dùng hệ thống kiểm tra hiện có của 13CE và mở trang kết quả chung giống như trang chủ.
Không có hệ thống kết quả thứ hai: biểu mẫu này dùng lại /api/dnsjob và trang kết quả chung.
Một lần tra cứu chỉ cho thấy câu trả lời hiện tại của một resolver. So sánh nhiều điểm giúp phát hiện điều hướng theo vùng, cache cũ và thay đổi chưa đồng bộ.
Kiểm tra A, AAAA, CNAME và NS. Bản ghi thiếu, cũ hoặc sai loại có thể làm truy cập lỗi trước khi yêu cầu HTTP bắt đầu.
IP khác nhau chưa chắc là lỗi vì CDN và GeoDNS thường điều hướng có chủ đích. Cần xác nhận sự khác biệt có đúng thiết kế hay không.
Thử lại với DNS công cộng, DNS nhà mạng hoặc DNS doanh nghiệp để tách lỗi cấu hình authoritative khỏi cache, chính sách hay ECS.
Dùng tên miền hoặc hostname như example.com hay www.example.com. Nếu dán URL đầy đủ, biểu mẫu sẽ lấy phần hostname.
A dành cho IPv4, AAAA dành cho IPv6, CNAME cho biết alias và NS cho biết máy chủ tên có thẩm quyền.
Để trống để dùng resolver hệ thống của từng điểm đo, hoặc nhập 8.8.8.8, 1.1.1.1 để so sánh có kiểm soát.
Tìm điểm đo thiếu hoặc trả lời khác, sau đó kiểm tra HTTP và độ trễ để xác nhận ảnh hưởng đến người dùng.
| Hiện tượng | Nguyên nhân thường gặp | Bước tiếp theo |
|---|---|---|
| Mọi điểm đo trả cùng bản ghi | Thay đổi đã lan truyền hoặc dịch vụ không điều hướng theo vùng | Kiểm tra HTTP của hostname để chắc rằng đích trả về phản hồi đúng. |
| Một số điểm vẫn trả IP cũ | Cache đệ quy chưa hết hạn, TTL dài hoặc máy chủ authoritative chưa đồng bộ | Kiểm tra bản ghi authoritative và thời điểm thay đổi, rồi thử lại sau cửa sổ TTL. |
| Các vùng trả IP khác nhau | CDN, GeoDNS, chính sách ISP hoặc rule điều hướng ngoài dự kiến | Xác nhận đây có phải thiết kế mong muốn; kiểm tra HTTP và độ trễ của từng đích. |
| Đổi resolver thì câu trả lời thay đổi | Cache, ECS, lọc hoặc chính sách cục bộ của resolver khác nhau | So sánh resolver hệ thống với resolver chỉ định và dùng NS authoritative làm mốc. |
| Có AAAA nhưng truy cập IPv6 lỗi | DNS đã công bố nhưng origin, firewall hoặc tuyến IPv6 chưa sẵn sàng | Kiểm tra TCP và HTTP qua IPv6 trước khi quyết định giữ hay xóa AAAA. |
Khi chuyển origin hoặc CDN, theo dõi nơi còn IP cũ thay vì chỉ tin cache trên máy của bạn.
Kiểm tra khu vực lỗi có phân giải sang IP khác không, rồi kiểm tra đích đó bằng HTTP và TCP.
Chỉ định từng resolver để thử lại. Nếu dữ liệu authoritative đúng, hãy điều tra thời gian cache hoặc chính sách resolver.
So sánh A và AAAA, sau đó xác minh port, chứng chỉ, firewall và định tuyến của đích IPv6.
Giả sử phần lớn điểm đo Việt Nam trả 203.0.113.10, nhưng một số điểm vẫn trả 198.51.100.20.
Chỉ có sự khác biệt chưa đủ kết luận lỗi. Trước tiên xác nhận CDN hoặc GeoDNS có chủ đích hay không. Nếu không, kiểm tra bản ghi authoritative, TTL và thời điểm thay đổi. Sau đó kiểm tra HTTP với hostname để biết cả hai đích có phục vụ đúng nội dung hay không.
Kết quả DNS không tự chứng minh website đang hoạt động. Hãy kiểm tra cấu hình authoritative riêng và kết hợp với trạng thái HTTP, khả năng kết nối TCP cùng độ trễ trước khi quyết định sửa.
Ba cụm từ thường cùng chỉ một nhu cầu tìm kiếm. Phân giải là quá trình đổi tên thành bản ghi, tra cứu là truy vấn cụ thể, còn kiểm tra DNS nhấn mạnh việc so sánh và chẩn đoán.
Nguyên nhân có thể là authoritative chưa đồng bộ, cache đệ quy, lỗi delegation hoặc DNSSEC, hay hành vi resolver theo mạng. Cần so sánh nhiều điểm và truy vấn máy chủ authoritative.
Không nhất thiết. Cân bằng tải, CDN và GeoDNS thường trả nhiều IP hoặc IP theo vị trí. Chỉ là lỗi khi kết quả không đúng thiết kế hoặc một đích không phục vụ được website.
Thời gian phụ thuộc TTL cũ, cache của resolver và độ nhất quán authoritative. TTL là mốc tham khảo, nhưng thời gian làm mới thực tế khác nhau nên cần kiểm tra lặp lại.
Có. Nhập IP resolver vào trường tùy chọn. Để trống để dùng resolver hệ thống của từng điểm đo và quan sát đường phân giải tại mạng địa phương.
Tham khảo tiêu chuẩn giao thức và tài liệu resolver khi cần xác minh hành vi DNS ngoài một lần kiểm tra.
So sánh hành vi resolver, sau đó xác minh HTTP và độ trễ của các đích được trả về.